Giá trị pháp lý của Hợp đồng giả cách

  1. Hợp đồng giả cách là gì?

Theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Đồng thời, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là chủ thể phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, nội dung và mục đích của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức của giao dịch dân sự phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Nếu một giao dịch dân sự mà không tuân thủ quy định về nội dung, hình thức, không thỏa mãn dấu hiệu về chủ thể, ý chí hoặc về trình tự thủ tục thực hiện giao dịch theo quy định của pháp luật thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo như sau: Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc luật khác có liên quan.”

Pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về khái niệm “Hợp đồng giả cách”. Tuy nhiên, thực tế có thể hiểu đây là loại hợp đồng mà các bên tham gia đồng ý xác lập một giao dịch giả tạo nhằm che giấu đi một hợp đồng khác, trốn tránh nghĩa vụ đối với tài sản hoặc nội dung giao dịch, không tuân thủ các điều kiện pháp lý trong hợp đồng.

  1. Phân tích về Hợp đồng giả cách

Bài viết đưa ra hai trường hợp về Hợp đồng giả cách trên thực tế như sau:

Trường hợp 1: Giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá trị thấp hơn so với giá trị thực tế khi mua bán

Nhằm mục đích giảm thiểu chi phí về thuế phải đóng, các bên đã thoả thuận ký kết một hợp đồng khác với giá chuyển nhượng thấp hơn so với giá trị thực tế (hợp đồng giả cách). Hợp đồng giả cách này được sử dụng trong việc kê khai thuế và làm thủ tục sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhằm giảm, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, phí đối với Nhà nước.

Trường hợp 2: Vay tiền dưới hình thức chuyển nhượng/ mua bán tài sản

Các bên lập hợp đồng giả cách là hợp đồng chuyển nhượng/mua bán tài sản nhưng với mục đích thực sự là vay tiền. Được thực hiện bằng việc công chứng tài sản đảm bảo với giá trị cao hơn để hợp thức hóa khoản vay. Tuy nhiên, một khi bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ trả tiền hoặc nghĩa vụ trả lãi thì có thể bị mất tài sản của mình.

Mục đích là vay tài sản, ký kết Hợp đồng chuyển nhượng/ mua bán tài sản là để đảm bảo khoản vay chứ không nhằm mục đích chuyển nhượng/ mua bán tài sản cho bên cho vay. Nhưng về mặt pháp luật, sẽ tồn tại song song hai bản hợp đồng, đó là: hợp đồng cho vay và hợp đồng chuyển nhượng/mua bán tài sản.

Dưới góc độ pháp lý, hợp đồng được xác lập về mặt hình thức nhưng không phải là ý chí của các bên, các bên không thực hiện các nghĩa vụ theo nội dung hợp đồng đã ký kết, việc ký kết hợp đồng này chỉ để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ nào đó của một hợp đồng khác, che giấu bởi một giao dịch khác thì đây là hợp đồng giả tạo (hay còn gọi là hợp đồng giả cách) mà không phải là ý chí thực, nguyện vọng, mục đích, mong muốn thực sự của các bên khi ký hợp đồng này. Chính vì vậy, hợp đồng này không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia loại hợp đồng này, hợp đồng này bị vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Như vậy, giao dịch dân sự giả tạo hay còn gọi là hợp đồng giả cách không có giá trị pháp lý. Hợp đồng này bị vô hiệu theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015. Hậu quả pháp lý của “hợp đồng giả cách” được thực hiện theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Hậu quả pháp lý khi ký kết hợp đồng giả cách

Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

“- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

– Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

– Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

– Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Như vậy, khi Hợp đồng giả cách bị tuyên vô hiệu, Hợp đồng bị che giấu vẫn còn hiệu lực, các bên trao trả lại cho nhau những gì đã nhận.