Mua, vay trả góp không thanh toán đúng hạn bị xử lý như thế nào?
- Thế nào là mua, vay trả góp?
Tại khoản 3 Điều 3 Thông tư 43/2016/TT-NHNN quy định “Cho vay trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng của công ty tài chính đối với khách hàng, theo đó công ty tài chính và khách hàng thỏa thuận trả nợ gốc và lãi tiền vay theo nhiều kỳ hạn”.
Còn theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 43/2016/TT-NHNN quy định thì:“Công ty tài chính thực hiện cho vay tiêu dùng được mở điểm giới thiệu dịch vụ tại nơi cung ứng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nhằm giới thiệu sản phẩm cho vay, thu thập thông tin và nhu cầu vay vốn của khách hàng”.
Có nghĩa là, việc mua hàng trả góp lãi suất 0% tại một cửa hàng, đại lý là việc người mua ký kết hợp đồng mua hàng trả góp với công ty tài chính có điểm giới thiệu dịch vụ tại cửa hàng đó.

>>> Tham khảo ngay: Hồ sơ, thủ tục, trình tự và điều kiện yêu cầu thi hành án dân sự?
- Mua, vay trả góp không thanh toán đúng hạn bị xử lý thế nào?
2.1 Nộp thêm lãi chậm trả khoản vay
Khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:
– Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
– Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
– Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Như vậy, nếu người vay trả góp không thực hiện trả nợ đúng hạn khi đến hạn trả góp thì sẽ phải trả lãi chậm trả theo thoả thuận ghi trong hợp đồng vay trả góp giữa người vay và công ty tài chính.
2.2 Bị cho vào nhóm nợ xấu và tương lai khó vay vốn
Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, với khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên.
Khi khách hàng bị quá hạn trả nợ, công ty tài chính sẽ phân loại nợ xấu và gửi kết quả phân loại nhóm nợ của khách hàng cho Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam CIC. Khi khách hàng có lịch sử nợ xấu thì nếu sau này muốn vay tiền ở ngân hàng; hoặc ở công ty tài chính khác sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều.
Khoản 1 Điều 11 Thông tư 03/2013/TT-NHNN cũng quy định thông tin nợ xấu được lưu trữ trong thời gian tối đa 05 năm trừ trường hợp theo chính sách cung cấp thông tin của CIC (Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam – Credit Information Centre).

>>> Tham khảo ngay: Đã có quốc tịch nước ngoài có được làm căn cước công dân tại Việt Nam?
2.3 Bị Công ty tài chính giục nợ
Cụ thể, điểm đ khoản 2 Điều 7 Thông tư 18/2019/TT-NHNN quy định biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ phù hợp với đặc thù của khách hàng, quy định của pháp luật và không bao gồm biện pháp đe dọa đối với khách hàng, trong đó số lần nhắc nợ tối đa 05 (năm) lần/01 (một) ngày, hình thức nhắc nợ, thời gian nhắc nợ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng nhưng phải trong khoảng thời gian từ 7 giờ đến 21 giờ;
Đồng thời, không nhắc nợ, đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ cho công ty tài chính, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật;
2.4 Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại
Theo quy định tại Điều 25 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về việc phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như sau:
“Tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về việc phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật đối với trường hợp tổ chức tín dụng hoặc khách hàng không thực hiện đúng nội dung trong thỏa thuận cho vay, trừ trường hợp khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận.
Tổ chức tín dụng và khách hàng có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp tổ chức tín dụng và khách hàng có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.
2.5 Xử phạt vi phạm hành chính
Trong trường hợp người mua, vay trả góp cố tình không thanh toán nợ, có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, cụ thể:
“Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”
Đồng thời áp dụng cùng mức phạt với hành vi không trả lại tài sản cho người khác do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

>>> Tham khảo ngay: Các bước khi tiếp cận vụ việc dân sự của Luật Sư
2.6 Truy cứu trách nhiệm hình sự
Người có hành vi mua, vay trả góp nhưng không thực hiện trả nợ đúng hạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Cụ thể, nếu một người vay trả góp nhưng dùng thủ đoạn gian dối/bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền từ 04 – dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 04 triệu đồng nhưng bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản… chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, đến thời hạn trả nợ, dù có điều kiện nhưng cố tình không trả thì có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc phạt tù từ 06 tháng – 03 năm.
Mức phạt tối đa đối với tội danh này là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tiếng Việt
English








