Phạt vi phạm hợp đồng giữa Bộ luật Dân sự và Luật thương mại khác nhau như thế nào?

  1. Phạt vi phạm là gì?

Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.”

Theo Điều 300 Luật thương mại 2005 quy định: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm”.

Chế tài phạt vi phạm hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động vào ý thức của các chủ thể, bảo vệ quyền lợi các bên chủ thể; trách nhiệm pháp lí nhằm nâng cao ý thức thực hiện hợp đồng, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật, phòng ngừa vi phạm hợp đồng. Với mục đích như vậy, phạt vi phạm được áp dụng một cách phổ biến đối với các vi phạm hợp đồng.

Có thể hiểu, không có giới hạn về mức phạt vi phạm trong dân sự, các bên có thể thỏa thuận chỉ bị phạt vi phạm. Tuy nhiên, đối với hợp đồng thương mại có quy định khác về mức phạt vi phạm.

>>> Tham khảo ngay: Điều kiện tuyên bố một người đã chết theo pháp luật dân sự

  1. Luật áp dụng trong Hợp đồng

Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự. Hợp đồng dân sự áp dụng quy định về phạt vi phạm tại Bộ luật Dân sự 2015.

Ngược lại, Hợp đồng thương mại là hợp đồng phát sinh trong hoạt động thương mại. Đó là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác do thương nhân thực hiện và được điều chỉnh bởi Luật Thương mại năm 2005.

  1. Điểm khác biệt về phạt vi phạm trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại

Điểm khác biệt cơ bản về phạt vi phạm trọng Bộ luật dân sự và Luật Thương mại là mức phạt vi phạm.

Theo đó, tại khoản 2, 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

“Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận trừ trường hợp liên quan có quy định khác.

Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.

Còn theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại 2005 thì: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định khác”.

>>> Tham khảo ngay: Các bước khi tiếp cận vụ việc dân sự của Luật Sư

Như vậy, Bộ Luật Dân sự 2015 đã nêu rõ mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong khi, Luật thương mại quy định mức phạt vi phạm hợp đồng thương mại do các bên tự thỏa thuận tuy nhiên sẽ không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.

Trong trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, thực tế các vụ việc tranh chấp kinh doanh, thương mại, Tòa án thường chấp nhận quan điểm phần vượt quá sẽ không được tính và mức phạt sẽ được xác định là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, điều khoản phạt vi phạm vẫn có hiệu lực.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 266 Luật thương mại 2005: “Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng. Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định”.

Lưu ý, theo Bộ Luật Dân sự thì trường hợp: Nội dung của hợp đồng chỉ quy định về phạt vi phạm mà không có thỏa thuận vừa phải bồi thường thiệt hại vừa phải chịu phạt vi phạm thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm. Ngược lại, theo Luật Thương mại thì chỉ cần có hành vi vi phạm xảy ra, bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm đồng thời với bồi thường thiệt hại dù cho trong hợp đồng không có thoả thuận về việc phải áp dụng cùng lúc với bồi thường thiệt hại, hoặc không có điều khoản bồi thường thiệt hại.