Hành vi bắt cóc trẻ em để tống tiền sẽ phải chịu hình phạt như thế nào?

- Bắt cóc trẻ em nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi như thế nào?
Trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay, nhà làm luật Việt Nam không mô tả cụ thể về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là như thế nào, tuy nhiên, có rất nhiều định nghĩa được đưa ra để giải thích về hành vi phạm tội này.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bắt cóc là bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi”, thuật ngữ này được giải thích tương đối sát nghĩa, thể hiện được bản chất của hành vi bắt cóc so với các tội phạm khác. Bắt cóc người khác phải thể hiện việc đưa người bị bắt giấu đi ở một nơi nào đó mà không muốn cho người khác biết, đặc biệt là đối với người thân, gia đình của người bị bắt (người muốn chuộc con tin).
Như vậy, có thể hiểu: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bí mật, bắt giữ người để làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt”.
Tại Điều 1 Luật trẻ em 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Vì vậy, định nghĩa về bắt cóc trẻ em nhằm chiếm đoạt tài sản có thể được hiểu như sau: “Bắt cóc trẻ em nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bí mật, bắt giữ người dưới 16 tuổi để làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt”.
- Hành vi bắt cóc trẻ em có thể cấu thành những tội gì?
Theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người có hành vi bắt cóc trẻ em tùy theo mục đích, tình tiết thực hiện hành vi mà có thể cấu thành một trong 4 tội danh.
– Thứ nhất là Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 29 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
– Thứ hai là Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 33 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
– Thứ ba là Tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 151 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 28 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
– Thứ 4 là Tội bắt cóc con tin quy định tại Điều 301 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 103 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
Trong số những tội danh trên, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có khung hình phạt cao nhất.
- Tội bắt cóc trẻ em để tống tiền bị phạt như thế nào?

Tội bắt cóc trẻ em để tống tiền là hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 169 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 33 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017. Theo đó, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:
Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Làm chết người;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.”.
Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, Tội bắt cóc trẻ em làm con tìm nhằm mục đích để tống tiền thì bị phạt tù từ 02 năm đến 20 năm hoặc phạt tù chung thân tùy theo tính chất nguy hiểm của tội phạm. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Ngoài ra, để đưa ra một mức chế tài cụ thể đối với từng vụ án thì cũng sẽ xem xét thêm các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể căn cứ quy định tại các Điều 51, 54 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét tuyên mức án thấp hơn mức án mà người phạm tội có thể bị VKS truy tố.
- Phân tích về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản phải đồng thời có 2 yếu tố: bắt giữ người trái phép và đe dọa chủ tài sản để chiếm đoạt tài sản. Hai yếu tố này đòi hỏi phải luôn đi kèm với nhau, nếu chỉ có một trong hai yếu tố, thì không thể cấu thành tội danh bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Ví dụ, A bắt giữ con của B, rồi đòi tiền chuộc, khi ấy sẽ có dấu hiệu của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Nếu A chỉ bắt giữ con của B mà không đòi tiền thì sẽ có dấu hiệu của tội danh khác.
Hành vi bắt người trái pháp luật được thực hiên bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác như cho uống thuốc ngủ, thuốc mê, xịt ête, lừa dối… để bắt được người làm con tin. Hành vi bắt cóc người làm con tin là đặc trưng cơ bản của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bởi lẽ bắt người làm con tin chính là một thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản.
Người phạm tội bắt cóc chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng (khoản 2), phạm tội đặt biệt nghiêm trọng (khoản 3 và khoản 4) theo quy định tại điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngoài ra, hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản vừa xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị đòi tiền chuộc, vừa xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm của công dân.
- Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi nào?
Thời điểm hoàn thành của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được tính từ thời điểm người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin với ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác mà không đặt ra vấn đề đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa.
Ngoài ra, trường hợp người phạm tội mới chỉ có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
- Kết luận
Hành vi bắt cóc trẻ em nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, tiềm ẩn nhiều hệ lụy, tiêu cực… Do vậy cần phải xử lý nghiêm để tạo sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Trẻ em có thể gặp nguy hiểm, bắt cóc, mất an toàn bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu. Sự sơ suất, bất cẩn hoặc lơi lỏng của người lớn, trong đó có cha mẹ, là một phần nguyên nhân dẫn đến những tình huống xấu này. Do đó, các bậc cha mẹ, người giám hộ, quản lý hoặc chăm sóc trẻ em cần nâng cao cảnh giác, tránh những tình huống xấu có thể xảy ra, nên đặt sự an toàn và bảo vệ trẻ em là trên hết.

Tiếng Việt
English








