Thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh

  1. Thế nào là bí mật kinh doanh?

Theo khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.

Tuy nhiên, không phải thông tin bí mật nào cũng được xem là bí mật kinh doanh mà cần đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 như sau: (i) Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; (ii) Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh so với đối thủ; (iii) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị lộ hoặc không để người khác không dễ dàng tiếp cận được.

  1. Thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh

Căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động 2019, khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm.

Ngoải ra, Điều 4 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, cũng quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh như sau: “Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận với người lao động về nội dung bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ trong hợp đồng lao động hoặc bằng văn bản khác theo quy định của pháp luật”.

>>> Tham khảo ngay: Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về việc sử dụng con dấu trong doanh nghiệp ?

  1. Nội dung của thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ

Theo Điều 4 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, nội dung thỏa thuận về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, bao gồm:

– Danh mục bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ;

– Phạm vi sử dụng bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ;

– Thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ;

– Phương thức bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ;

– Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động trong thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ;

– Xử lý vi phạm thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ.

Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận về các nội dung khác miễn sao đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn và không vi phạm pháp luật.

  1. Xử lý trường hợp vi phạm thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh

Nếu phát hiện người lao động vi phạm thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động bồi thường theo thỏa thuận của hai bên. Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường được thực hiện như sau:

  • Trường hợp 1: phát hiện người lao động có hành vi vi phạm trong thời hạn thực hiện hợp đồng lao động.

– Xử lý theo trình tự, thủ tục xử lý việc bồi thường thiệt hại của Luật lao động. Khi phát hiện người lao động có hành vi vi phạm gây thiệt hại thì người sử dụng lao động yêu cầu người lao động tường trình bằng văn bản về vụ việc. Sau đó, trong thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại (06 tháng kể từ ngày có hành vi vi phạm), người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại.

– Nội dung cuộc họp xử lý bồi thường thiệt hại phải được lập thành biên bản, thông qua trước khi kết thúc cuộc họp và có chữ ký của người tham dự cuộc họp theo quy định.

– Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải được ban hành trong thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại. Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải nêu rõ mức thiệt hại; nguyên nhân thiệt hại; mức bồi thường thiệt hại; thời hạn, hình thức bồi thường thiệt hại và được gửi đến các thành phần phải tham dự họp theo quy định. Các trường hợp bồi thường thiệt hại khác thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

– Bên cạnh đó, có thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động 2019.

  • Trường hợp 2: phát hiện người lao động có hành vi vi phạm sau khi chấm dứt hợp đồng lao động thì xử lý theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan. Căn cứ quy định tại Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

Đối với bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thuộc danh mục bí mật nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.