Thủ tục tái thẩm trong tố tụng dân sự

  1. Tái thẩm trong tố tụng dân sự là gì?

Tái thẩm được hiểu là một trong hai thủ tục đặc biệt không nằm trong cấp xét xử đối với một vụ án. Căn cứ tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định bản chất của tái thẩm trong tố tụng dân sự như sau: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó”.

  1. Điều kiện kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Theo Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong tố tụng dân sự như sau:

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

– Thứ nhất, mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án.

– Thứ hai, có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ.

– Thứ ba, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật.

– Thứ tư, bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

>>> Tham khảo ngay: Điều kiện tuyên bố một người đã chết theo pháp luật dân sự

  1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm.

  1. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Tại Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm như sau:

“Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm”.

>>> Tham khảo ngay: Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự

  1. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử tái thẩm

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử tái thẩm như sau:

Hội đồng xét xử tái thẩm có thẩm quyền sau đây:

– Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

– Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật này quy định.

– Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án.

  1. Trình tự thực hiện thủ tục tái thẩm

Bước 1: Nộp Đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (nêu rõ lý do đề nghị và yêu cầu đề nghị) tại Tòa án và Viện kiểm sát cấp cao để chuyển đến Chánh án và Viện trưởng.

Gửi kèm theo đơn là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Bước 2: Nếu như đủ điều kiện và căn cứ, Tòa án và Viện kiểm sát nhận đơn. Nếu như hồ sơ thiếu, không đầy đủ thì Tòa án, Viện kiểm sát sẽ yêu cầu bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ. Nếu hồ sơ không đáp ứng đủ các căn cứ và điều kiện được quy định, Tòa án, Viện kiểm sát trả lại đơn và nêu rõ lý do từ chối.

Bước 3: Chánh án, Viện trưởng sẽ phân công người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu hồ sơ, tài liệu.

Bước 4: Ra quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị (dựa trên kết quả của bước 3).