Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự
- Khái niệm về người thứ ba ngay tình
Theo Từ điển Luật học có giải thích về khái niệm người thứ ba ngay tình là người chiếm hữu không có căn cứ pháp lý đối với tài sản nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.
Như vậy, đối với trường hợp đã ký vào hợp đồng mua nhà mà không biết rằng căn nhà đó không thể bán thì theo quy định của pháp luật thì đây có thể được xem là người thứ ba ngay tình.
>>> Tham khảo ngay: Giấy uỷ quyền là gì? Quy định pháp luật về uỷ quyền?
- Quy định bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự
Tại Điều 133 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu như sau:
Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Ví dụ:
Bản án 20/2019/DS-PT ngày 31/05/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc “Đòi lại tài sản là nhà và quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” thì việc bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó bà H căn cứ vào việc bà C được cấp giấy chứng nhận nên đã ký hợp đồng chuyển nhượng theo đúng quy định và bà H cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, Toà án đã công nhận giao dịch này giữa bà C và bà H.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
Ví dụ:
A và B xác lập một hợp đồng cho mượn đất, trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và khởi kiện ra Tòa án. Tòa án tuyên bố B có quyền sở hữu đất. Trên cơ sở bản án của Tòa án, B bán mảnh đất cho C. Sau đó, A kháng cáo bản án sơ thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nên đã hủy bản án sơ thẩm, và tuyên A có quyền sở hữu đối với mảnh đất.
C là người thứ ba đối với hợp đồng giữa A và B, và tư cách người thứ ba của C xuất hiện là do bản án của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy. Giao dịch giữa B và C vẫn có hiệu lực pháp luật. Do đó, có thể hiểu “bản án, quyết định bị hủy, sửa” là tiền đề xuất hiện người thứ ba ngay tình.
Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định trên nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

- Điều kiện đối với giao dịch của người thứ ba ngay tình có hiệu lực
Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật dân sự 2015, giao dịch ngay tình của người thứ ba có hiệu lực cần đáp ứng các điều kiện sau:
– Thứ nhất, đã có một giao dịch dân sự được xác lập và thực hiện hoàn thành trước đó. Giao dịch dân sự này bị xác định là vô hiệu, tất nhiên thời điểm xác định giao dịch sự vô hiệu là sau khi giao dịch với người thứ ba diễn ra.
Ví dụ: vợ chồng ông A chết lập di chúc để lại di sản là 1000m2 đất vườn và căn nhà trên đất cho anh B (con duy nhất của vợ chồng ông A). Sau đó anh B chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) và căn nhà trên đất trên cho bà C. Thời gian sau có anh D (người chưa thành niên) là con riêng của ông A yêu cầu chia di sản. Như vậy, di chúc của vợ chồng ông A bị vô hiệu một phần. Lúc này, bà C là người thứ ba ngay tình trong giao dịch nhận chuyển nhượng QSDĐ với anh B.
– Thứ hai, giao dịch với người thứ ba phải đáp ứng các điều kiện của giao dịch dân sự có hiệu lực tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015: điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự.
– Thứ ba, người thứ ba xác lập giao dịch phải ngay tình. Trong trường hợp này, người thứ ba không biết hoặc không thể biết rằng mình tham gia giao dịch dân sự có yếu tố dẫn đến giao dịch vô hiệu liên quan đến giao dịch trước đó. Người thứ ba ngay tình phải chứng minh yếu tố “ngay tình” khi tham gia giao dịch dân sự này.
– Thứ tư, người thứ ba đã thực hiện nghĩa vụ và đã hưởng những quyền dân sự trong giao dịch do họ xác lập, mục đích của giao dịch đã đạt được. Tuy nhiên, với những loại tài sản bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu và chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản đó.
Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung quy định chủ sở hữu có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại. Thông thường, chủ sở hữu tài sản sẽ yêu cầu bên xác lập thực hiện giao dịch với người thứ ba phải hoàn trả chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại phát sinh nếu có.
Từ các quy định pháp luật nêu trên, người dân khi tham gia giao dịch dân sự cần thận trọng trong việc xác lập các giao dịch dân sự, nhất là các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn.
>>> Tham khảo ngay: Giá trị pháp lý của Hợp đồng giả cách

Tiếng Việt
English








