NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ QUYỀN KHỞI KIỆN CÔNG TY ĐỘT NGỘT CẮT GIẢM TRỢ CẤP VÌ LÝ DO “KINH TẾ KHÓ KHĂN”?

1. Tình huống pháp lý

Tôi là nhân viên bán hàng làm trong một Công ty xuất nhập khẩu từ năm 2024. Tôi đã ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Mức lương cơ bản kèm các khoản trợ cấp cố định (tiền ăn, điện thoại, chuyên cần) được ghi rõ trong Hợp đồng và được trả theo Quy chế Công ty.

Đầu năm 2026, lấy lý do biến động thị trường, Công ty ra thông báo cắt giảm toàn bộ các khoản trợ cấp này mà không lấy ý kiến hay ký phụ lục Hợp đồng, dẫn đến thu nhập thực tế của tôi giảm 20%. Khi tôi trao đổi thêm với bộ phận Hành chính – Nhân sự thì không được giải quyết, yêu cầu tôi chấp hành. Nếu tôi không đồng ý thì có thể làm đơn xin nghỉ việc.

Theo đó, Công ty có được quyền cắt giảm như vậy hay không? Tôi cần làm gì nếu Công ty làm trái quy định của pháp luật? Xin Luật sư cho biết.

2. Quy định pháp luật

Để xác định tính hợp pháp của hành vi cắt giảm thu nhập, chúng ta cần căn cứ vào các quy định về hợp đồng và tiền lương tại Bộ luật Lao động 2019.

Cụ thể, Điều 33 Bộ luật Lao động 2019 quy định về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động nêu rõ: Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 03 ngày làm việc về nội dung cần sửa đổi, bổ sung.” Việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới. Nếu hai bên không thỏa thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết.

Bên cạnh đó, Điều 103 Bộ luật Lao động 2019 khẳng định: “Chế độ nâng lương, phụ cấp, trợ cấp và các chế độ khuyến khích đối với người lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy định trong quy chế của người sử dụng lao động.” Theo đó, khi các khoản trợ cấp của người lao động đã được ghi nhận trong hợp đồng lao động, chúng trở thành một phần nghĩa vụ bắt buộc của Công ty phải thực hiện.

Từ đây cho thấy, Công ty ra thông báo cắt giảm toàn bộ các khoản trợ cấp này mà không lấy ý kiến (thoả thuận) với nhân viên là hành vi vi phạm quy định của pháp luật về lao động.

Theo đó, đối với hành vi vi phạm như trên, căn cứ khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định mức xử phạt hành chính từ 05 đến 10 triệu đồng đối với việc Công ty không trả đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Đồng thời, Công ty buộc phải hoàn trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền trả chậm, trả thiếu cho người lao động.

Về phía người lao đông, để bảo vệ quyền lợi, cần thực hiện ba bước sau:

Bước 1: Thu thập bằng chứng bao gồm Hợp đồng lao động, bảng lương các tháng trước khi giảm, thông báo cắt giảm trợ cấp của Công ty và các bằng chứng về việc Công ty không lấy ý kiến, thỏa thuận.

Bước 2: Thực hiện quyền khiếu nại trực tiếp đến Ban Giám đốc Công ty hoặc Công đoàn cơ sở (tổ chức đại diện người lao động) để yêu cầu thực hiện đúng Hợp đồng đã ký. Nếu không được giải quyết, người lao động gửi đơn khiếu nại đến Sở Nội vụ tỉnh/thành phố hoặc UBND xã/phường (nơi doanh nghiệp đóng trụ sở hoặc chi nhánh) hoặc Hội đồng trọng tài lao động tại UBND tỉnh/thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở. Các cơ quan này có thẩm quyền theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP cử Hoà giải viên lao động xử lý vụ việc.

Bước 3: Trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải mà không được giải quyết, người lao động có quyền nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền (nơi Công ty đặt trụ sở hoặc chi nhánh) để yêu cầu bồi thường và khôi phục quyền lợi.

3. Đánh giá

Dưới góc nhìn pháp lý, lý do “kinh tế khó khăn” hay “biến động thị trường”, thậm chí “thay đổi cơ cấu” không phải là “thẻ bài miễn tử” để Công ty tự ý thay đổi các cam kết trong Hợp đồng lao động trước đó. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận tự nguyện và bình đẳng giữa Công ty và nhân viên; một khi đã ký kết, các khoản trợ cấp cố định được xem là một phần của tiền lương và điều kiện làm việc. Việc công ty tự ý cắt giảm 20% thu nhập mà không có sự đồng ý của nhân viên là hành vi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận, ảnh hưởng đến thu nhập của nhân viên đó.

Nếu Công ty thực sự gặp khó khăn, Giám đốc hoặc bộ phận Hành chính – Nhân sự cần thiện chí, chủ động thương lượng với nhân viên tại nơi làm việc để đi đến thống nhất về việc tạm dừng hoặc giảm trợ cấp trong một thời hạn nhất định. Việc ra thông báo áp đặt một chiều không chỉ sai về hình thức (thiếu phụ lục hợp đồng) mà còn sai về bản chất pháp lý, biến hành vi quản trị thành hành vi chiếm đoạt quyền lợi hợp pháp của người lao động. Sự im lặng của người lao động trong thời gian dài thường bị Công ty mặc định là sự đồng ý, do đó việc lên tiếng và thực hiện các bước đi pháp lý là cực kỳ cần thiết để thiết lập lại sự công bằng trong quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính nhân viên.

4. Kết luận

Tổng kết lại, Công ty không có quyền đột ngột cắt giảm các khoản trợ cấp đã ghi trong hợp đồng nếu chưa được sự đồng ý của nhân viên bằng văn bản. Hành vi này là vi phạm pháp luật lao động và người lao động hoàn toàn có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện để đòi lại quyền lợi.

Việc quyết liệt bảo vệ thu nhập không chỉ giúp người lao động lấy lại số tiền bị thiếu hụt mà còn ngăn chặn tiền lệ xấu trong quản lý nhân sự tại đơn vị. Người lao động theo đó nên bắt đầu bằng việc yêu cầu một cuộc họp đối thoại chính thức với bộ phận nhân sự và trích dẫn trực tiếp Điều 33 Bộ luật Lao động 2019 để khẳng định vị thế pháp lý của mình. Trong kỷ nguyên thượng tôn pháp luật, mọi sự thay đổi về lợi ích kinh tế phải được xây dựng trên sự đồng thuận và ký kết văn bản đúng quy trình.

Trên đây là tư vấn pháp lý mà Luật Bắc Dương tổng hợp và cập nhật. Chân thành cảm ơn Quý độc giả đã quan tâm theo dõi!

Ân Quang – 02/04/2026

Nguồn: Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Zalo tư vấn pháp luật MIỄN PHÍ: https://zalo.me/0903208938