TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI KHI HỘ LIỀN KỀ CẢN TRỞ THỦ TỤC HỢP THỬA VÀ THỦ TỤC KHỞI KIỆN XÁC ĐỊNH RANH GIỚI HỢP PHÁP

1. Tình huống pháp lý

Tháng 11/2026, ông Đặng Văn S (trú tại phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội) tìm đến Luật Bắc Dương trong tâm trạng bức xúc. Gia đình ông sở hữu hai thửa đất liền kề (thửa số 15 diện tích 80m² và thửa số 16 diện tích 70m²) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) riêng biệt từ năm 2012. Do có nhu cầu xây dựng công trình nhà ở kiên cố phục vụ kinh doanh, ông S làm thủ tục nộp hồ sơ xin hợp thửa đất tại Văn phòng Đăng ký đất đai để gộp thành một thửa lớn diện tích 150m².

Tuy nhiên, trong quá trình đo đạc hiện trạng địa chính phục vụ cho việc hợp thửa, hộ gia đình ông L (sử dụng thửa đất giáp ranh bên cạnh) bất ngờ ngăn cản, từ chối ký biên bản xác nhận ranh giới và gửi đơn kiến nghị đến UBND phường. Ông L cho rằng ranh giới giữa thửa đất số 16 của ông S với thửa đất nhà ông L có sự chồng lấn khoảng 20cm theo suốt chiều dài, yêu cầu ông S phải trả lại diện tích đất đó thì mới cho tiến hành đo đạc hợp thửa. Do vướng tranh chấp ranh giới giáp ranh chưa được giải quyết, hồ sơ hợp thửa của ông S bị cơ quan chuyên môn tạm dừng giải quyết.

Mặc dù UBND phường đã tổ chức các buổi hòa giải nhưng không thành do ông L kiên quyết chây ỳ. Nhận thấy quyền định đoạt, sử dụng hợp pháp tài sản bị cản trở nghiêm trọng, tháng 11/2026, ông S quyết định tìm đến Luật Bắc Dương nhờ tư vấn pháp lý và tiến hành khởi kiện ra Tòa án nhân dân.

2. Quy định pháp luật

Tranh chấp phát sinh từ việc hộ liền kề cản trở, không hợp tác ký xác nhận ranh giới dẫn đến hồ sơ hợp thửa đất bị tạm dừng là dạng tranh chấp đất đai giáp ranh kết hợp với thủ tục hành chính, được điều chỉnh trực tiếp bởi các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

Về điều kiện và thủ tục hợp thửa đất, căn cứ theo quy định tại Điều 220 Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành, việc hợp thửa đất phải bảo đảm các điều kiện: Các thửa đất phải có chung một người sử dụng đất; các thửa đất phải liền kề nhau và không có tranh chấp về quyền sử dụng đất. Trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính để hợp thửa, đơn vị đo đạc phải phối hợp với các chủ sử dụng đất liền kề để xác định ranh giới, mốc giới thực tế. Trường hợp hộ liền kề có tranh chấp về ranh giới mà từ chối ký xác nhận, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền tạm dừng giải quyết hồ sơ cho đến khi tranh chấp được giải quyết dứt điểm theo quy định pháp luật.

Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp ranh giới và bảo vệ người sử dụng đất hợp pháp, căn cứ theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai 2024, ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tranh chấp về ranh giới thửa đất giữa các hộ liền kề không đạt được thỏa thuận qua hòa giải tại cấp xã thuộc thẩm quyền giải quyết độc quyền của Tòa án nhân dân khu vực theo thủ tục tố tụng dân sự.

3. Đánh giá

Với góc nhìn pháp lý, lập luận “tôi không ký xác nhận ranh giới thì anh không thể làm thủ tục hợp thửa đất được, muốn hợp thửa phải trả lại đất cho tôi” của ông L là hành vi cản trở trái pháp luật, lạm dụng quyền hạn của chủ sử dụng đất liền kề để gây sức ép đối với quyền tài sản của người khác.

Về vị thế tố tụng, của ông Đặng Văn S có những lợi thế sau: Thứ nhất, hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) cấp năm 2012 cùng trích lục bản đồ địa chính qua các thời kỳ là chứng cứ pháp lý tuyệt đối chứng minh ranh giới hai thửa đất của gia đình ông S được Nhà nước xác lập hợp pháp, không có sự chồng lấn diện tích. Thứ hai, việc ông L từ chối ký xác nhận mà không đưa ra được tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh quyền sử dụng đất của mình bị lấn chiếm cấu thành hành vi cản trở quyền định đoạt, sử dụng hợp pháp tài sản của công dân.

4. Kết luận

Qua đó, để giải quyết dứt điểm tranh chấp, bảo vệ quyền hợp thửa và sử dụng đất hợp pháp của ông S, quy trình tố tụng và hành chính cần được thực hiện qua các bước cụ thể:

Bước 1: Ông S tiến hành thu thập các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ bản gốc của thửa số 15 và số 16), trích lục bản đồ địa chính gốc tại thời điểm giao dịch, Biên bản hòa giải không thành tại UBND cấp xã, các thông báo tạm dừng giải quyết hồ sơ hợp thửa của Văn phòng Đăng ký đất đai và hình ảnh hiện trạng ranh giới thực tế giữa hai hộ gia đình.

Bước 2: Ông S cùng Luật sư đại diện gửi văn bản chính thức tới hộ gia đình ông L, phân tích rõ quy định pháp luật về ranh giới thửa đất theo Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Đất đai 2024; ấn định thời hạn để các bên tự nguyện phối hợp với đơn vị đo đạc ký xác nhận mốc giới, tránh việc kéo dài tố tụng tốn kém chi phí.

Bước 3: Trường hợp hộ liền kề tiếp tục chây ỳ, cản trở, ông S nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền nơi có bất động sản để yêu cầu Tòa án ban hành bản án xác định chính xác ranh giới, mốc giới hợp pháp của các thửa đất, buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở và phối hợp thực hiện các thủ tục xác nhận giáp ranh phục vụ công tác hợp thửa đất; phối hợp với Tòa án trưng cầu giám định kỹ thuật đo đạc độc lập nếu cần thiết để bảo đảm tính khách quan.

Trên đây là tư vấn pháp lý mà Luật Bắc Dương tổng hợp và cập nhật. Chân thành cảm ơn Quý độc giả đã quan tâm theo dõi!

Ân Quang – 4/11/2026

Nguồn: Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Zalo tư vấn pháp luật MIỄN PHÍ: https://zalo.me/0903208938