TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ ĐẤT ĐAI KHI DI CHÚC BỊ GIẢ MẠO, LẬP TRÁI PHÁP LUẬT VÀ THỦ TỤC KHỞI KIỆN CHIA DI SẢN THEO PHÁP LUẬT
1. Tình huống pháp lý
Tháng 08/2025, cụ ông Phạm Văn T qua đời, để lại di sản là thửa đất diện tích 500m² tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên riêng cụ T từ năm 2012). Hàng thừa kế thứ nhất của cụ T gồm có 03 người con ruột là ông Phạm Văn A, bà Phạm Thị B và ông Phạm Văn C. Lúc sinh thời, cụ T nhiều lần khẳng định trước gia đình và dòng họ sẽ chia đều mảnh đất cho cả 03 người con.
Tuy nhiên, ngay sau khi cụ T mất, ông A bất ngờ trưng ra một bản Di chúc viết tay (không có công chứng, chứng thực) lập năm 2024 với nội dung cụ T để lại toàn bộ 500m² đất cho riêng một mình ông A. Bà B và ông C bàng hoàng kiểm tra thì phát hiện chữ ký và chữ viết tên cụ T trên bản di chúc có dấu hiệu bị giả mạo tinh vi. Ngoài ra, tại thời điểm ghi trên di chúc (tháng 05/2024), cụ T đang điều trị bệnh đột quỵ tại bệnh viện, đặt ra nghi vấn về khả năng nhận thức và hành vi thời điểm này có đủ điều kiện thực hiện không.
Mặc dù bà B và ông C đề nghị đưa di chúc đi giám định hoặc họp gia đình phân chia di sản theo pháp luật, ông A kiên quyết từ chối, yêu cầu tôn trọng di nguyện của cụ đồng thời khóa cửa không cho các em vào nhà và cố gắng làm thủ tục sang tên Sổ đỏ.
Nhận thấy quyền thừa kế hợp pháp bị xâm phạm nghiêm trọng, tháng 11/2026, bà B và ông C quyết định tìm đến Luật Bắc Dương nhờ tư vấn pháp lý và tiến hành khởi kiện ra Tòa án nhân dân.

2. Quy định pháp luật
Tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất phát sinh từ di chúc bị lập trái pháp luật, giả mạo chữ ký hoặc lập trong tình trạng người để lại di sản không minh mẫn được điều chỉnh trực tiếp bởi các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:
Về điều kiện có hiệu lực của di chúc, căn cứ theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng đủ các điều kiện: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Trường hợp di chúc viết tay không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015. Việc di chúc bị giả mạo chữ ký hoặc lập khi người để lại di sản không còn năng lực hành vi dân sự làm cho di chúc bị vô hiệu toàn bộ.
Về chia di sản thừa kế theo pháp luật khi di chúc vô hiệu, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 650 và khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp di chúc không hợp pháp thì toàn bộ di sản thừa kế được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết). Căn cứ khoản 2 Điều 651, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau đối với diện tích 500m² đất di sản.
Về thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, Khoản 5 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Tranh chấp về thừa kế tài sản là bất động sản thuộc thẩm quyền giải quyết độc quyền của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền nơi có bất động sản.
3. Đánh giá
Với góc nhìn pháp lý, hành vi giả mạo chữ ký, lợi dụng lúc cha mẹ ốm đau bệnh tật để lập di chúc bất hợp pháp nhằm chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế là vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Bản di chúc viết tay không được công chứng, chứng thực và chứa đựng yếu tố giả mạo hoàn toàn không có giá trị pháp lý để làm căn cứ dịch chuyển quyền sở hữu.
Về vị thế tố tụng, bà Phạm Thị B và ông Phạm Văn C có nhiều lợi thế: Thứ nhất, Hồ sơ bệnh án tại thời điểm lập di chúc cùng mẫu chữ ký, chữ viết thực tế của cụ T qua các thời kỳ là tập chứng cứ khoa học không thể chối cãi để Tòa án trưng cầu giám định tư pháp, tuyên vô hiệu bản di chúc do ông A trưng ra. Thứ hai, các tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân (Giấy khai sinh, Giấy chứng tử của cụ T) khẳng định bà B, ông C và ông A cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất, có quyền bình đẳng trong việc hưởng phần di sản bằng nhau.
Do đó, các yêu cầu khởi kiện tuyên bố di chúc bị vô hiệu, hủy bỏ các thủ tục đăng ký biến động đất đai trái luật và phân chia 500m² đất di sản theo đúng quy định pháp luật là hoàn toàn có cơ sở.
4. Kết luận
Qua đó, để giải quyết dứt điểm tranh chấp, bảo vệ trọn vẹn quyền di sản thừa kế hợp pháp của các đồng thừa kế, bà B và ông C cần thực hiện quy trình ba bước xử lý chuẩn mực:
Bước 1: Ông bà tiến hành thu thập Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ bản sao), Giấy chứng tử của cụ T, Giấy khai sinh của các người con, Hồ sơ bệnh án điều trị đột quỵ của cụ T tại thời điểm tháng 05/2024, các mẫu chữ ký/chữ viết tay thực tế của cụ T lúc còn khỏe mạnh và bản sao di chúc do ông A cung cấp.
Bước 2: Hai ông bà cùng Luật sư đại diện gửi văn bản chính thức tới ông Phạm Văn A, chỉ rõ các vi phạm điều kiện có hiệu lực của di chúc theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015; yêu cầu hủy bỏ bản di chúc không hợp pháp và ấn định thời hạn để các bên cùng ra Văn phòng Công chứng làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo pháp luật.
Bước 3: Trường hợp ông A cố tình chây ỳ, không hợp tác, bà B và ông C nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền nơi có bất động sản để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Trên đây là tư vấn pháp lý mà Luật Bắc Dương tổng hợp và cập nhật. Chân thành cảm ơn Quý độc giả đã quan tâm theo dõi!

Ân Quang – 03/11/2026
Nguồn: Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Zalo tư vấn pháp luật MIỄN PHÍ: https://zalo.me/0903208938
Tiếng Việt
English








