Giải đáp tin tức chồng không được ly hôn dù vợ mang thai con của người khác
Vào ngày 16/05, các trang mạng xã hội đồng loạt đăng tin “Mới nhất: Từ ngày 1/7, chồng không được phép ly hôn dù vợ mang thai, sinh con với ai”. Thông tin này đã làm xôn xao mạng xã hội, nhiều người bày tỏ quan ngại quy định pháp luật như vậy liệu có công bằng, thực tế? Cũng có người đặt nghi vấn nguồn tin này liệu có chính xác không? Qua đây, Luật Bắc Dương xin chia sẻ tới quý độc giả quy định pháp luật chính xác về thông tin đang được lan truyền.
- Nguồn gốc thông tin
Ngày 16/05/2024, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ban hành Nghị quyết số 01/2024, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Nghị quyết có hiệu lực từ 01/07/2024. Nội dung của Nghị quyết có dòng quy định “Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn, không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai”. Một số tờ báo lớn như Thanh niên, Vietnamnet,… đưa tin về việc Hội đồng thẩm phán có ra Nghị quyết nêu trên. Tuy nhiên mục đích của các tờ báo không phải đưa tất cả nội dung Nghị quyết vào bài viết mà chỉ cập nhật tin tức và trích dẫn thêm một số điều luật để độc giả đọc. Các trang tin mạng xã hội lấy một phần thông tin qua những tờ báo chính thống và giật tít truyền thông với tiêu đề “Chồng không được phép ly hôn dù vợi mang thai, sinh con với ai”.

Các trang mạng xã hội giật tít cùng những bình luận từ công đồng mạng
- Quy định pháp luật
Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:
– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
– Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Căn cứ Nghị quyết số 01/2024, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình như sau:
“Điều 2. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014
1. “Đang có thai” là khoảng thời gian vợ mang trong mình bào thai và được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén.
2. “Sinh con” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi;
b) Vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con;
c) Vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén.
3. Chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này hoặc ngày đình chỉ thai nghén hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.
5. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.”
Theo quy định tại Khoản 3, 4 Điều 2 Nghị quyết 01/2024, người chồng không có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn trong thời gian vợ đang mang thai và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Bởi lẽ, trong thời gian mang thai, sinh con, người phụ nữ đối mặt với nhiều áp lực cả về sức khỏe và tinh thần. Nếu tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu ly hôn từ người chồng, rất có thể xảy ra những hệ lụy không mong muốn, ảnh hưởng tiêu cực đến người mẹ và đứa trẻ.
Ngược lại, người chồng vẫn có thể ly hôn vợ sau thời gian mang thai và chăm sóc đứa trẻ khi đủ 12 tháng tuổi.
Đồng thời căn cứ vào Luật hôn nhân gia đình các năm 1959, 1986, 2000 (hiện nay đã hết hiệu lực), Theo quy định tại Điều 85 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Luật chỉ quy định “vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”; do đó, khi người vợ đang thuộc một trong các trường hợp này (không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà người chồng có yêu cầu xin ly hôn, …”. Từ đây, chúng ta thấy quy định pháp luật trên không phải lần đầu tiên ban hành.
Trường hợp phát hiện vợ mang thai, nuôi đứa trẻ không phải con mình (từ đủ 12 tháng), người chồng có quyền khởi kiện ra Toà án để ly hôn và yêu cầu các khoản bồi thường thiệt hại do bị lừa dối, chi phí công sức chăm sóc, cấp dưỡng trong thời gian sống chung. Người chồng có thể liên hệ với Luật sư để nhận được tư vấn pháp lý chi tiết hơn.

Vợ chồng nhờ đến cơ quan pháp luật giải quyết ly hôn
- Lời nhắn nhủ tới bạn đọc
Qua đó, quy định của pháp luật hoàn toàn khác với tin tức các trang mạng xã hội chia sẻ. Những dòng giật tít để kích thích tương tác như vậy khiến độc giả hiểu sai điều luật cùng Nghị quyết mới ban hành của Hội đồng Thẩm phán, thậm chí bất bình khi tưởng rằng người vợ mang thai, nuôi con người khác nhưng người chồng phải chịu uất ức, không thể ly hôn được.

Thông tin mạng xã hội tác động lớn đến nhận thức của nhiều người
Trên đây là một trong nhiều điển hình của thông tin không chính xác từ không gian mạng. Người đọc chúng ta vừa đọc tin tức nhưng cần tìm hiểu đúng và đầy đủ nguồn tin đó. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể cập nhật những thông tin mới bổ ích mà không bị hiểu sai lệch theo định hướng dư luận của một số trang mạng xã hội.

Ân Quang, Xuân Hằng – 18/06/2024
Tiếng Việt
English








