Những quyền lợi chỉ dành riêng cho lao động nữ

Nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong quan hệ xã hội và quan hệ lao động, pháp luật lao động Việt Nam đã dành riêng nhiều chính sách áp dụng đối với người lao động nữ. Các chính sách này được quy định tại Bộ luật Lao động 2019, Luật Bảo hiểm xã hội 2014… cụ thể như sau:

  1. Lao động nữ được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 năm/lần

Theo quy định tại Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 về việc khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp thì hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động.

Cùng với đó, khi khám sức khỏe định kỳ, lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản theo danh mục khám chuyên khoa phụ sản do Bộ Y tế ban hành, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.

  1. Được nghỉ ngơi trong thời gian hành kinh

Theo khoản 3 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định nghỉ trong thời gian hành kinh của lao động nữ như sau:

“Lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút tính vào thời giờ làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh do hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ nhưng tối thiểu là 03 ngày làm việc trong một tháng.

Trường hợp không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý thì người lao động sẽ được trả thêm tiền lương tương ứng với thời gian được nghỉ mà vẫn làm việc”.

  1. Được nghỉ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định, lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ.

>>> Tham khảo ngay: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

  1. Được quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động khi mang thai

Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

Trường hợp này nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng thì vẫn được coi là hợp pháp mặc dù không đảm bảo thời gian báo trước theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

Đồng thời, người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

  1. Không bị xử lý kỷ luật khi mang thai và nuôi con nhỏ

Tại điểm d khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật đối với người lao động đang trong thời gian mang thai; nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Tuy nhiên, hết thời gian mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng thì lao động nữ vẫn có thể bị xử lý kỷ luật do thời hiệu xử lý kỷ luật lao động có thể kéo dài.

  1. Lao động nữ được bảo vệ thai sản

Theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định nếu lao động nữ đang mang thai từ tháng 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở những nơi đặc biệt như vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo; hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì doanh nghiệp không được phép cử làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa.

Tuy nhiên, nếu người lao động đồng ý thì người sử dụng lao động vẫn được sử dụng người lao nữ mang thai làm đêm, làm thêm giờ, đi công tác xa.

Lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.

  1. Nghỉ khám thai vẫn được hưởng lương 100%

Theo quy định tại Điều 32 và Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về thời gian mang thai và nghỉ thai sản như sau:

– Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.

– Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản nêu trên tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

– Chế độ thai sản khi thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

>>> Tham khảo ngay: Khi nào người sử dụng lao động được sa thải người lao động?

  1. Được nghỉ thai sản trước và sau sinh con 6 tháng

Tại Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.

  1. Quyền được lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ nếu doanh nghiệp sử dụng hơn 1000 lao động nữ

Theo khoản 5 Điều 80 của Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng từ 1000 người lao động nữ trở lên, người sử dụng lao động phải lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Điều này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của lao động nữ trong việc vắt sữa mẹ và lưu trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Phòng vắt, trữ sữa mẹ được lắp đặt nhằm cung cấp không gian riêng tư và thuận tiện cho lao động nữ có thể vắt sữa mẹ và bảo quản sữa mẹ sau khi vắt.

  1. Bình đẳng với lao động nam về lương, thưởng, thăng tiến

Theo khoản 1 Điều 78 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, tiền lương, khen thưởng, thăng tiến, trả công lao động, các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện lao động, an toàn lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, ốm đau, thai sản, các chế độ phúc lợi khác về vật chất và tinh thần.