BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI KHI TỰ Ý ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

1. Tình huống pháp lý

Anh Trần Văn D ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 24 tháng với Công ty X, đảm nhiệm vị trí Trưởng phòng Kinh doanh từ tháng 03/2025. Do nảy sinh mâu thuẫn cá nhân với Ban Giám đốc trong quá trình điều hành công việc, anh D đã đột ngột nộp đơn xin nghỉ việc và tự ý nghỉ làm ngay ngày hôm sau mà không báo trước đủ thời gian luật định. Hành vi nghỉ việc đột ngột của anh D khiến dự án quan trọng của công ty bị gián đoạn, gây tổn thất lớn về doanh thu.

Công ty X sau đó đã gửi thông báo yêu cầu anh D phải bồi thường tiền lương những ngày không báo trước, hoàn trả chi phí đào tạo và bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh.Anh D không đồng ý và phát sinh tranh chấp lao động cá nhân giữa hai bên.

2. Quy định pháp luật

Căn cứ Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 30 ngày làm việc. Việc anh D tự ý nghỉ việc ngay ngày hôm sau mà không tuân thủ thời hạn báo trước bị xác định là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Lao động 2019.

Nghĩa vụ pháp lý của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật được quy định cụ thể tại Điều 40 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, anh D không được nhận trợ cấp thôi việc; phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động; một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước; và phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 Bộ luật Lao động 2019 (nếu có).

Về thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, căn cứ Điều 187 và Điều 188 Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp về bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thuộc trường hợp bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy định mà Hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

3. Đánh giá

Dưới góc nhìn pháp lý, hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không tuân thủ thời hạn báo trước là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Pháp luật lao động hiện hành quy định hệ thống chế tài bồi thường cụ thể nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của hợp đồng, đồng thời bù đắp những tổn thất về mặt tổ chức và tài chính mà doanh nghiệp phải chịu do sự xáo trộn nhân sự đột ngột.

Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động, doanh nghiệp chỉ có quyền yêu cầu người lao động bồi thường các khoản định sẵn theo Điều 40 Bộ luật Lao động 2019 và chi phí đào tạo có hợp đồng hợp lệ. Đối với các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh thêm ngoài quy định tại Điều 40, nghĩa vụ chứng minh thiệt hại trực tiếp và mối quan hệ nhân quả thuộc về phía người sử dụng lao động. Do đó, việc nắm vững trình tự hòa giải tố tụng lao động đóng vai trò then chốt giúp các bên bảo vệ tối đa quyền lợi của mình mà không tốn kém chi phí và thời gian kéo dài.

4. Kết luận

Đối với vụ việc tranh chấp lao động giữa anh Trần Văn D và Công ty X, hành vi tự ý nghỉ việc của anh D đã cấu thành việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Để giải quyết dứt điểm tranh chấp bảo đảm đúng quy định pháp luật, các bên thực hiện theo tiến trình 3 bước pháp lý sau:

Bước 1: Hai bên tiến hành rà soát lại toàn bộ Hợp đồng lao động, Hợp đồng đào tạo (nếu có) và bảng lương gần nhất để xác định chính xác tổng số tiền bồi thường nghĩa vụ theo Điều 40 Bộ luật Lao động 2019, sau đó chủ động thương lượng trực tiếp để thống nhất phương án giải quyết hòa giải nội bộ.

Bước 2: Trường hợp không đạt được thỏa thuận chung, một trong hai bên gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân đến Hòa giải viên lao động thuộc UBND cấp xã/phường có thẩm quyền để tiến hành thủ tục hòa giải bắt buộc theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Lao động 2019.

Bước thứ ba, nếu hòa giải không thành hoặc hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu mà Hòa giải viên không tiến hành hòa giải, Công ty X hoặc anh D có quyền nộp đơn khởi kiện vụ án lao động tại Tòa án nhân dân khu vực nơi anh D cư trú hoặc nơi công ty đặt trụ sở để yêu cầu Tòa án xét xử và ra bản án giải quyết nghĩa vụ bồi thường theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Trên đây là tư vấn pháp lý mà Luật Bắc Dương tổng hợp và cập nhật. Chân thành cảm ơn Quý độc giả đã quan tâm theo dõi!

Ân Quang – 26/08/2026

Nguồn: Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Zalo tư vấn pháp luật MIỄN PHÍ: https://zalo.me/0903208938