CÔNG TY “ÔM” TIỀN BẢO HIỂM XÃ HỘI, NỢ ĐỌNG NHIỀU THÁNG RỒI TRỐN TRÁNH KHÔNG CHỐT SỔ: NGƯỜI LAO ĐỘNG PHẢI ĐÒI LẠI QUYỀN LỢI RA SAO?

1. Tình huống pháp lý

Tháng 05/2023, anh Trần Minh K ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với vị trí Kế toán trưởng tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại T (do ông Nguyễn Văn Q làm Tổng Giám đốc). Mức lương đóng bảo hiểm xã hội ghi trong hợp đồng là 20 triệu đồng/tháng. Trong suốt quá trình làm việc, hằng tháng công ty vẫn trừ trực tiếp tiền đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) vào bảng lương của anh K.

Đến tháng 12/2025, do công ty liên tục nợ lương và chây ỳ quyền lợi, anh K đã nộp đơn xin thôi việc theo đúng thời hạn báo trước 45 ngày và chính thức chấm dứt hợp đồng lao động vào cuối tháng 01/2026. Tuy nhiên, khi anh K yêu cầu công ty thanh toán toàn bộ tiền lương còn nợ và thực hiện thủ tục xác nhận, chốt sổ BHXH để anh đi xin việc mới hoặc hưởng bảo hiểm thất nghiệp, Ban Giám đốc liên tục né tránh.

Qua kiểm tra trực tiếp trên ứng dụng VssID, anh K bàng hoàng phát hiện Công ty T đã chiếm dụng tiền trừ lương của anh từ đầu năm 2024 nhưng không nộp cơ quan BHXH, dẫn đến tình trạng nợ đọng quỹ BHXH lên tới 24 tháng. Khi anh K yêu cầu giải quyết dứt điểm, ông Q thẳng thừng tuyên bố: “Công ty đang khó khăn, tiền đâu mà xử lý bây giờ, anh cần phải thông cảm và chia sẻ cho tập thể”.

Nhận thấy quyền lợi an sinh xã hội và tài sản bị xâm phạm nghiêm trọng, tháng 10/2026, anh K quyết định tìm đến Luật Bắc Dương nhờ tư vấn pháp lý và tiến hành khởi kiện ra Tòa án nhân dân.

2. Quy định pháp luật

Tranh chấp phát sinh từ việc người sử dụng lao động nợ đọng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và từ chối thực hiện nghĩa vụ chốt, trả sổ BHXH cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng là dạng tranh chấp lao động cá nhân rất phổ biến, được điều chỉnh trực tiếp bởi các quy định của Bộ luật Lao động 2019, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Về nghĩa vụ trích nộp tiền bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động, căn cứ theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động đúng quy định và có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm.

Đồng thời, pháp luật nghiêm cấm hành vi gian dối, trốn đóng hoặc chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội. Việc Công ty T đã trừ tiền đóng bảo hiểm hằng tháng từ lương của anh K nhưng không chuyển nộp vào cơ quan bảo hiểm xã hội, dẫn đến tình trạng nợ đọng kéo dài, là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi an sinh xã hội của người lao động.

Về trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động và chốt sổ bảo hiểm xã hội, căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên.

Đồng thời, người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với các giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. Việc Công ty T từ chối thực hiện thủ tục xác nhận và chốt sổ bảo hiểm xã hội với lý do nợ đọng là hoàn toàn trái pháp luật.

Về hậu quả pháp lý và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người lao động, căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm cấp lại bản chính giấy tờ tùy thân, các giấy tờ khác đã giữ của người lao động và trả chi phí cần thiết (nếu có) trong trường hợp chậm chốt sổ bảo hiểm xã hội làm ảnh hưởng đến quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc tìm kiếm việc làm mới của người lao động.

Trường hợp hành vi nợ đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội gây thiệt hại trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người lao động (như mất cơ hội hưởng bảo hiểm thất nghiệp, không được hưởng chế độ ốm đau, thai sản), người sử dụng lao động buộc phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế phát sinh theo quy định chung của pháp luật dân sự và lao động.

3. Đánh giá

Dưới góc nhìn pháp lý, chiêu trò “trừ lương nhân viên hằng tháng – ôm tiền không nộp cơ quan bảo hiểm – trốn tránh khi nhân viên nghỉ việc” là hành vi vi phạm pháp luật cực kỳ nguy hiểm của nhiều doanh nghiệp chập chờn tài chính. Nhiều chủ doanh nghiệp lầm tưởng rằng nợ bảo hiểm xã hội chỉ là tranh chấp hành chính với cơ quan bảo hiểm mà quên mất rằng việc này trực tiếp làm tê liệt quyền lợi việc làm và an sinh của người lao động.

Tuy nhiên, về mặt pháp lý tố tụng, anh K nắm giữ thế thượng phong:

Thứ nhất, bảng lương hằng tháng có thể hiện khoản khấu trừ tiền bảo hiểm xã hội cùng sao kê tài khoản ngân hàng nhận lương là bằng chứng xác thực việc công ty đã trừ tiền của người lao động nhưng không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

Thứ hai, thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động đã rõ ràng, việc công ty giam giữ, không chốt sổ bảo hiểm xã hội khiến anh K không thể làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp, gây thiệt hại vật chất trông thấy rõ.

4. Kết luận

Qua đó, để xử lý tranh chấp lao động trong trường hợp bị công ty nợ bảo hiểm xã hội và từ chối chốt sổ đòi hỏi người lao động phải giữ vững sự bình tĩnh, thu thập đầy đủ hồ sơ tài chính và tiến hành các bước bảo vệ quyền lợi theo đúng quy trình chuẩn mực:

Bước 1: Thu thập và lưu giữ trọn bộ chứng cứ làm việc bao gồm Hợp đồng lao động bản gốc, các bảng lương hằng tháng có thể hiện khoản tiền trừ đóng bảo hiểm xã hội, sao kê tài khoản ngân hàng nhận lương, sổ bảo hiểm xã hội (nếu đang giữ bản cứng) hoặc dữ liệu trích xuất từ ứng dụng VssID thể hiện chính xác quá trình và thời gian nợ đọng của công ty.

Bước 2: Gửi Thư yêu cầu pháp lý và đề nghị đối thoại giải quyết tranh chấp. Người lao động hoặc Luật sư đại diện gửi văn bản chính thức đến Ban Giám đốc Công ty T, chỉ rõ các vi phạm pháp luật nghiêm trọng về nghĩa vụ trích nộp bảo hiểm xã hội theo Điều 168 và trách nhiệm chốt, trả sổ khi chấm dứt hợp đồng theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019; yêu cầu trong thời hạn 07 ngày phải thanh toán toàn bộ tiền lương nợ, nộp bù toàn bộ số tiền bảo hiểm xã hội còn thiếu vào cơ quan bảo hiểm và thực hiện chốt trả sổ cho người lao động.

Bước 3: Yêu cầu hòa giải lao động tại UBND xã/phường nơi người lao động làm việc.

Bước 4: Khởi kiện trực tiếp ra Tòa án nhân dân. Trường hợp doanh nghiệp cố tình phớt lờ yêu cầu, người lao động nộp đơn khởi kiện trực tiếp ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân.

Trên đây là tư vấn pháp lý mà Luật Bắc Dương tổng hợp và cập nhật. Chân thành cảm ơn Quý độc giả đã quan tâm theo dõi!

Ân Quang – 19/10/2026

Nguồn: Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

Zalo tư vấn pháp luật MIỄN PHÍ: https://zalo.me/0903208938