TRANH CHẤP CHIA DI SẢN THỪA KẾ LÀ BẤT ĐỘNG SẢN KHI DI CHÚC KHÔNG HỢP PHÁP VÀ QUYỀN LỢI CỦA THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC
1. Tình huống pháp lý
Tháng 01/2025, cụ Trần Văn B (sinh năm 1945) qua đời tại thành phố H. Cụ B để lại di sản thừa kế là một căn nhà gắn liền với thửa đất diện tích 200m² tại quận C (trị giá thị trường hiện tại khoảng 10 tỷ đồng). Cụ bà đã mất từ năm 2018. Về hàng thừa kế thứ nhất, cụ B có 03 người con chung gồm: ông Trần Văn H, bà Trần Thị K và ông Trần Văn M (bị khuyết tật nặng từ nhỏ, không có khả năng lao động).
Sau khi cụ B mất, ông H xuất trình một tờ “Di chúc viết tay” lập năm 2023 có chữ ký của cụ B và có 01 người hàng xóm làm chứng. Nội dung bản di chúc ghi rõ: “Để lại toàn bộ nhà đất 200m² cho con trai trưởng là Trần Văn H toàn quyền sở hữu, các con khác không được chia”. Ông H yêu cầu bà K và ông M phải dọn đi để ông làm thủ tục sang tên Sổ đỏ. Tuy nhiên, bà K và ông M phát hiện vào thời điểm năm 2023, cụ B bị biến chứng bệnh tiểu đường nghiêm trọng, mắt mờ không còn đọc được chữ và bị lẫn. Qua kiểm tra hồ sơ, tờ di chúc tay do ông H tự soạn sẵn rồi nắm tay cụ B ký, người làm chứng chỉ ký sau đó mà không trực tiếp chứng kiến cụ B minh mẫn lập di chúc. Ông H kiên quyết bác bỏ, cho rằng di chúc hoàn toàn hợp pháp và không đồng ý chia cho các em bất kỳ phần tài sản nào. Phát sinh tranh chấp gay gắt giữa các anh chị em trong gia đình.

2. Quy định pháp luật
Để đưa được hướng giải quyết vụ việc trên, trước hết cần đối chiếu với các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 cùng các quy định pháp luật có liên quan.
Về điều kiện có hiệu lực của di chúc, căn cứ quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng đủ các điều kiện: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị đe dọa, cưỡng ép, lừa dối; nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Cụ thể, căn cứ Khoản 3 Điều 630 và Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người lập di chúc bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ thì bản di chúc phải được người làm chứng ghi chép lại và phải được công chứng hoặc chứng thực. Di chúc viết tay của cụ B không được công chứng/chứng thực, lại lập trong tình trạng sức khỏe không minh mẫn là vi phạm nghiêm trọng về hình thức và điều kiện hiệu lực.
Về hậu quả khi di chúc không có hiệu lực pháp lý, căn cứ Điều 643 và Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc không hợp pháp thì không có hiệu lực thi hành toàn bộ hoặc một phần. Khi đó, di sản thừa kế của cụ B (nhà đất 200m²) sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất (gồm 03 người con: ông H, bà K, ông M) được hưởng phần di sản bằng nhau (mỗi người hưởng 1/3 giá trị nhà đất).
Về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, căn cứ Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp di chúc dù có hiệu lực nhưng chỉ cho ông H hưởng toàn bộ tài sản thì con đã thành niên mà không có khả năng lao động (ông M – bị khuyết tật nặng) vẫn bất diệt được hưởng phần di sản bằng ít nhất hai phần ba (2/3) suất của một người thừa kế theo pháp luật. Đây là quy định mang tính nhân văn sâu sắc nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho những đối tượng yếu thế.
Về thủ tục khởi kiện và thẩm quyền của Tòa án, căn cứ Khoản 5 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực nơi có bất động sản.
3. Đánh giá
Dưới góc nhìn pháp lý, đây là dạng tranh chấp thừa kế nhà đất nội bộ gia đình vô cùng phức tạp và nhạy cảm. Tâm lý của con trưởng (ông H) thường cho rằng mình đương nhiên có quyền thâu tóm nhà đất của cha mẹ để lại, từ đó tự tạo lập hoặc hợp thức hóa di chúc không đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, dưới góc độ chứng cứ pháp lý, bản di chúc viết tay mà ông H nắm giữ mắc phải sai phạm nghiêm trọng về điều kiện có hiệu lực của di chúc theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 (người lập di chúc bị mờ mắt, không minh mẫn, không được công chứng/chứng thực).
4. Kết luận
Đối với trường hợp của bà Trần Thị K và ông Trần Văn M, ông bà có đầy đủ căn cứ pháp lý để yêu cầu Tòa án tuyên bản di chúc của cụ B vô hiệu và chia di sản thừa kế theo pháp luật. Qua đó, để bảo vệ quyền lợi của bản thân, bà K và ông M thực hiện theo tiến trình 3 bước pháp lý sau:
Bước 1: Bà K và ông M thu thập trọn bộ hồ sơ chứng cứ gồm: Trích lục khai tử của cụ B; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) của thửa đất 200m²; Giấy khai sinh của 03 anh chị em chứng minh quan hệ thừa kế; Giấy xác nhận khuyết tật/Hồ sơ y tế của ông M; Trích sao hồ sơ bệnh án của cụ B tại bệnh viện năm 2023 chứng minh tình trạng sức khỏe/thị lực yếu.
Bước 2: Bà K gửi Thư thông báo không thừa nhận hiệu lực di chúc và yêu cầu họp gia đình phân chia di sản thừa kế gửi cho ông H qua đường bưu điện; đồng thời gửi Đơn đề nghị hòa giải tranh chấp thừa kế đất đai đến Ủy ban nhân dân cấp xã/phường nơi có đất để lập biên bản hòa giải theo thủ tục bắt buộc quy định tại Luật Đất đai.
Bước 3: Trường hợp hòa giải tại UBND cấp xã không thành hoặc ông H tiếp tục bác bỏ, bà K và ông M nộp Đơn khởi kiện tranh chấp về thừa kế tài sản tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền. Đồng thời, bà nộp Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với nhà đất để bảo đảm thi hành án.
Trên đây là tư vấn pháp lý mà Luật Bắc Dương tổng hợp và cập nhật. Chân thành cảm ơn Quý độc giả đã quan tâm theo dõi!

Ân Quang – 23/09/2026
Nguồn: Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Zalo tư vấn pháp luật MIỄN PHÍ: https://zalo.me/0903208938
Tiếng Việt
English








